ẢNH HƯỞNG CỦA HÀM LƯỢNG CHẤT KIỀM HOẠT HÓA ĐẾN TÍNH CÔNG TÁC VÀ CƯỜNG ĐỘ CHỊU NÉN CỦA VỮA GEOPOLYMER

Phạm Phương Duyên1, Nguyễn Kim Thanh1, Nguyễn Công Minh Hiếu1, Trịnh Văn Sáng1, Nguyễn Anh Đức2,
1 Sinh viên Khoa Công trình, Trường Đại học Hàng hải Việt Nam
2 Khoa Công trình, Trường Đại học Hàng hải VIệt Nam

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Việt Nam đang đẩy mạnh phát triển cơ sở hạ tầng, dẫn đến nhu cầu vật liệu xây dựng gia tăng đáng kể. Xi măng, một trong những vật liệu chủ đạo, được sử dụng với khối lượng lớn. Quá trình sản xuất xi măng phát thải một lượng khí CO2 đáng kể, gây ra những tác động tiêu cực đến môi trường. Cùng với đó, lượng phụ phẩm công nghiệp ngày càng lớn từ các ngành sản xuất cũng đặt ra bài toán xử lý hoặc tái chế nhằm giảm thiểu nguy cơ ô nhiễm. Trước bối cảnh này, nghiên cứu đề xuất giải pháp sử dụng xỉ hạt lò cao nghiền mịn (GBS), một phụ phẩm của quá trình luyện gang thép, làm phụ gia khoáng kết hợp với chất kiềm hoạt hóa (AA) để thay thế toàn bộ xi măng trong thiết kế thành phần cấp phối. Kết quả thực nghiệm cho thấy, hỗn hợp vữa chứa GBS và chất kiềm hoạt hóa vẫn đảm bảo tính công tác và có cường độ chịu nén phù hợp cho các ứng dụng của vữa. Trong đó, mẫu vữa sử dụng 5% AA và 95% GBS đạt cường độ nén cao nhất ở cả hai thời điểm 7 ngày và 28 ngày, đồng thời thể hiện sự phát triển cường độ rất hiệu quả trong giai đoạn này nhờ phản ứng tạo gel C-S-H.

Abstract

Currently, Vietnam is focusing on the infrastructure development, leading to a huge demand for construction materials. The extensive use of cement, however, entails significant environmental consequences, as its production process generates substantial CO2 emissions. Concurrently, the increasing volume of industrial by-products from manufacturing sectors poses challenges for disposal or recycling to mitigate pollution risks. In response to this context, this study proposes a solution utilizing ground granulated blast-furnace slag (GBS), a by-product of steel production, as a mineral additive combined with an alkaline activator to fully replace cement in mix proportion. The aim is to recycle industrial by-products and contribute to carbon emission reduction in construction. Experimental results indicate that mortar mixtures containing GBS and alkaline activator maintain workability and achieve compressive strength suitable for mortar applications. The mortar specimen with 5% AA and 95% GBS achieved the highest compressive strength at both 7 and 28 days, while also demonstrating highly effective strength development during this period due to the C-S-H gel formation reaction

Keywords: Ground granulated blast-furnace slag, recycle, alkaline activator, geopolymer mortar, sustainable development.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

[1] U.S. Geological Survey (2025), Mineral Commodity Summaries 2025.
[2] Song Nie, Jian Zhou, Fan Yang, Mingzhang Lan, Jinmei Li, Zhenqiu Zhang, Zhifeng Chen, Mingfeng Xu, Hui Li, và Jay G Sanjayan (2022), Analysis of theoretical carbon dioxide emissions from cement production: Methodology and application, Journal of Cleaner Production, Vol.334, p. 130270.
[3] Mikalai Filonchyk, Michael P Peterson, Lifeng Zhang, Volha Hurynovich, và Yi He (2024), Greenhouse gases emissions and global climate change: Examining the influence of CO2, CH4, and N2O, Science of The Total Environment, Vol. 935, p. 173359.
[4] Nguyễn Lê Hoàng Thụy Tố Quyên và Nguyễn Văn Đại (2021), Xếp hạng các công cụ sản xuất tinh gọn: Trường hợp ngành sản xuất thép tại Việt Nam, Tạp Chí Khoa học Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng, tr.39-48.
[5] Tạ Văn Luân, Bình Nguyễn Thanh, Thiên Phạm Hữu, và Châm Trịnh Thị (2023), Nghiên cứu sử dụng xỉ thép làm nguyên liệu sản xuất clanhke xi măng, Tạp chí Vật liệu và Xây dựng - Bộ Xây dựng,Ssố 13(03), tr. 23.
[6] (2017), Quyết định ban hành chỉ dẫn kỹ thuật Xỉ gang và xỉ thép sử dụng làm vật liệu xây dựng.
[7] Yasuhiro Dosho và Thi Phuong Dao (2025), Research on the application of perfect recycled aggregate concrete for pavement materials, Transportation Research Procedia, Vol.85, tr.60-67.
[8] Han-Sol Kim và Han-Seung Lee (2025), Effect of GGBFS Content and Curing Temperature on Early-Age Strength and Maturity-Based Modeling of Concrete, Materials, Vol. 18(19), p. 4525.
[9] Hoàng Minh Đức, Trần Quốc Toán, Lee Sang Hyun, và Do Kwang Soo (2020), Nghiên cứu ảnh hưởng của xỉ hạt lò cao nghiền mịn và tro bay đến tính chất của hỗn hợp bê tông và bê tông, Tạp chí Khoa học Công nghệ Xây dựng, Số 3, tr.33-40.
[10] Haya H Mhanna, Rami A Hawileh, Jamal A Abdalla, Anas Ayman, Abdulrahman Moussa, Baha El Din Mahdi, và Yousif Kuwatly (2023), Mechanical properties and durability of GGBS based geopolymer mortar, Materials Today: Proceedings.
[11] Hemn Unis Ahmed, Aso A Abdalla, Ahmed S Mohammed, Azad A Mohammed, và Amir Mosavi (2022), Statistical methods for modeling the compressive strength of geopolymer mortar, Materials, Vol.15(5), p. 1868.
[12] Rahmi Karolina, Johannes Tarigan, Harianto Hardjasaputra, and Roy Andre Daniel Silalahi (2023). Analysis of Geopolymer Mortar Compressive Strength Based on Fly Ash and GGBFS as Patch Repair Material. in IOP Conference Series: Earth and Environmental Science. IOP Publishing.
[13] Tang Van Lam và May Huu Nguyen (2023), Incorporating industrial By-Products into geopolymer mortar: effects on strength and durability, Materials, Số 16(12), p. 4406.