TÁC ĐỘNG CỦA CHUYỂN ĐỔI SỐ TRONG QUY TRÌNH CẢNG BIỂN ĐẾN HIỆU QUẢ LOGISTICS: BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TẠI HẢI PHÒNG (THE IMPACT OF DIGITAL TRANSFORMATION IN PORT OPERATIONS ON LOGISTICS EFFICIENCY: EMPIRICAL EVIDENCE FROM HAI PHONG)
Nội dung chính của bài viết
Tóm tắt
Nghiên cứu này giải quyết nghịch lý về hiệu quả hoạt động tại các cảng biển Việt Nam nơi sản lượng hàng hóa tăng trưởng cao nhưng năng lực cạnh tranh còn hạn chế. Thông qua phân tích tích hợp giữa khảo sát và phỏng vấn chuyên sâu tại cụm cảng Hải Phòng, nghiên cứu đánh giá tác động của việc áp dụng các nền tảng giao dịch điện tử - trụ cột thực tiễn của quá trình chuyển đổi số hiện nay. Bằng chứng thực nghiệm từ 115 doanh nghiệp cho thấy mức độ chuyển đổi số có tác động trực tiếp và tích cực đến hiệu quả logistics. Cụ thể, sau khi kiểm soát các yếu tố về quy mô và kinh nghiệm, việc tăng cường áp dụng các công cụ số (như e-Port, E-DO, thanh toán điện tử) giúp giảm đáng kể chi phí logistics trung bình khoảng 14,5 USD/TEU và rút ngắn thời gian thông quan khoảng 2,0 giờ.
Tuy nhiên, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng việc hiện thực hóa các lợi ích này không tự động đạt được mà phụ thuộc mạnh mẽ vào các yếu tố quản trị và bối cảnh. Phân tích có được từ phỏng vấn chuyên sâu đã làm sáng tỏ các các yếu tố chi phối những con số trên. Theo đó, sự quyết tâm của ban lãnh đạo, những người xem chuyển đổi số là chiến lược sống còn, cùng với áp lực cạnh tranh từ hệ sinh thái (khi các đối tác lớn đặt ra tiêu chuẩn giao dịch điện tử), là những động lực then chốt. Những yếu tố này giúp doanh nghiệp vượt qua các rào cản lớn về chi phí đầu tư ban đầu và lực cản từ thói quen vận hành cố hữu làm việc thủ công cố hữu.
Bằng cách tích hợp các kết quả này, nghiên cứu cung cấp một luận cứ khoa học toàn diện, vừa lượng hóa được lợi ích của chuyển đổi số trong quản trị cảng biển, vừa xác định các hàm ý chính sách và quản trị quan trọng để triển khai thành công.
Abstract
This study addresses the performance paradox in Vietnamese seaports... Empirical evidence from a survey of 115 enterprises shows that the adoption of digital transaction platforms, a pillar of digital transformation, has a direct and positive impact on logistics efficiency. Specifically increased adoption of digital tools significantly reduces average logistics costs by approximately 14.5 USD/TEU and shortens clearance times by about 2.0 hours.
However, the study also indicates that the realization of these benefits is not automatic but depends heavily on governance and contextual factors. Analysis from in-depth interviews clarifies the governing factors behind these quantitative results. Accordingly, key drivers include the determination of leadership, who view digital transformation as a vital strategy, and competitive pressure from the ecosystem (as major partners impose electronic transaction standards). These factors help enterprises overcome major barriers such as initial investment costs and the inertia of long-standing manual operational habits.
By integrating these findings, the study provides a comprehensive scientific argument, quantifying the benefits of digital transformation in port governance while also identifying critical policy and managerial implications for successful implementation.
Keywords: Port Governance, Digital Transformation, Electronic Transaction Platforms, Logistics Efficiency, Haiphong Port.
Từ khóa
Quản trị cảng biển, Chuyển đổi số, Nền tảng giao dịch điện tử, Hiệu quả logistics, Cảng Hải Phòng
Chi tiết bài viết
Tài liệu tham khảo
https://doi.org/10.3390/su13052795
[2] Van der Lugt, L. M., & De Langen, P. W. (2015). Beyond the landlord: worldwide empirical analysis of port authority strategies. In L. M. Van der Lugt (Ed.), Beyond the Landlord: A strategic management perspective on the port authority (pp. 63-84). VU University Amsterdam.
[3] Embassy of the Kingdom of the Netherlands in Vietnam (2024). A study on port development in Vietnam: Digitalization & sustainability. https://www.netherlandsandyou.nl/web/vietnam/w/-report-study-on-port-development-in-vietnam-digitalization-sustainability
[4] Mendes Constante, J. (2019). International Case Studies and Good Practices for Implementing Port Community Systems. Inter-American Development Bank.
[5] International Port Community Systems Association (IPCSA) (2015). How to develop a Port Community System.
[6] Le, S. T., & Nguyen, T. H. (2023). The Development of Green Ports in Emerging Nations: A Case Study of Vietnam. Sustainability, Vol.15(18), 13502.
https://doi.org/10.3390/su151813502
[7] Nguyễn Ngọc Hà (2025). Kinh tế biển xanh: Sự cần thiết và thách thức tại khu vực Vịnh Bắc Bộ, Việt Nam. Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải, Số 82, tr.220-228.
[8] Notteboom, T., Pallis, A., & Rodrigue, J.-P.(2022). Port economics, management and policy. Routledge.
[9] Port of Rotterdam. (2023). Annual Report 2023.
[10] PSA Singapore. (2023). Sustainability Report 2023.
[11] Quach, H. T., Tran, T. D., Nguyen, K. N., & Le, P. T. (2024). The dynamics of port competition and efficiency in Vietnam amidst COVID-19: a decadal analysis. Acta Logistica, Vol.11(1), pp.149-160 https://doi.org/10.22306/al.v11i1.490
[12] Oyewole, F. O., & Ebere, N. (2023). Influence of landlord port on efficiency of ports in Nigeria. International Research Journal of Modernization in Engineering Technology and Science, Vol.5(10), pp.2646-2668.
[13] The World Bank Group (2021). Port reform toolkit: Public-private partnerships in ports.
[14] Thủ tướng Chính phủ (2021). Quyết định số 1579/QĐ-TTg ngày 22 tháng 9 năm 2021 về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống cảng biển Việt Nam thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
[15] World Bank (2024). The Container Port Performance Index 2023: A Comparable Assessment of Performance Based on Vessel Time in Port. World Bank Publications.
Các bài báo được đọc nhiều nhất của cùng tác giả
- ĐOÀN HỮU CHỨC, HÀ MINH HIỂN, NGUYỄN BẢO MINH, NGUYỄN NGỌC HÀ, THIẾT KẾ BỘ ĐIỀU KHIỂN PID VÀ BỘ LỌC KALMAN ỨNG DỤNG TRONG ĐIỀU CHỈNH CÂN BẰNG THIẾT BỊ BAY KHÔNG NGƯỜI LÁI DẠNG QUADCOPTER , Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải: Số 84 (2025): Số 84 (11/2025)
- NGUYỄN NGỌC HÀ, LUẬN CỨ VỀ QUẢN LÝ NHU CẦU VẬN TẢI VÀ MỐI QUAN HỆ VỚI CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ GIAO THÔNG , Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải: Tập 76 (2023): Số 76 (11/2023)